Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

John Lennon và 6 bài hát có ảnh hưởng nhất



Sau đây là 6 bài hát có ảnh hưởng mạnh mẽ và sức sống trường tồn nhất với giọng ca John Lennon, cả khi hoạt động cùng tứ quái huyền thoại The Beatles từ 1957 đến 1970 lẫn khi tách ra solo trong suốt thập niên 70, do trang Christian Science Monitor  tổng hợp:
1. “I Want to Hold Your Hand” - The Beatles (1963) 
The Beatles hát “I Want to Hold Your Hand” trong những năm 1960.
The Beatles hát “I Want to Hold Your Hand” trong những năm 1960.
Từ năm 1963 và nhiều năm về sau, các cô gái vẫn không ngừng la hét khi bốn chàng The Beatles đẹp trai đứng trước mắt họ và cùng hát “Tôi muốn nắm tay em”. Đây là đĩa đơn thứ 6 của The Beatles tại Anh và là một trong những ví dụ tiêu biểu cho các ca khúc đồng sáng tác đỉnh cao của John Lennon - Paul McCartney. John từng nói ông và Paul sáng tác ca khúc khi đang “ngồi bên nhau, nhìn vào mắt nhau” trong một “căn phòng nhỏ bề bộn” vào năm 1963. Sau khi phát hành, “I Want to Hold Your Hand” đã hạ bệ một đĩa đơn khác của The Beatles, “She Loves You”, trên bảng xếp hạng âm nhạc Anh, lập kỷ lục bài hát chiếm vị trí số một “thần tốc” nhất trong lịch sử âm nhạc Anh. Đây cũng là bài hát đầu tiên của tứ quái đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ.
“I Want to Hold Your Hand” được tạp chí Rolling Stone, Bảo tàng danh vọng Rock & Roll, Hiệp hội ngành công nghiệp ghi âm Mỹ ghi nhận là một trong những bài hát quan trọng nhất trong lịch sử nhạc rock.
2. “Tomorrow Never Knows” - The Beatles (1966)
Bìa album Revolver
Bìa album "Revolver" (1966).
Bài hát nằm trong album "Revolver", được ghi âm khi John đang trong trạng thái lâng lâng vì ma túy và cũng là ca khúc đầu tiên trong lịch sử âm nhạc có quá trình ra đời lạ lùng như vậy.
“Tomorrow Never Knows” dồn dập, đầy ảo giác, là kiệt tác đàn một dây đóng mác Lennon - McCartney khác, bài hát do John sáng tác chính với cảm hứng lấy từ cuốn “Tử thư Tây Tạng” (Tibetan Book of the Dead). Đây cũng là bài hát phiêu lưu nhất của The Beatles tính đến lúc đó.
Trong cuốn tiểu sử “The Beatles: The Biography” của Bob Spitz, tác giả khẳng định trong “Tomorrow Never Knows”, John đặt mục tiêu tạo nên một âm thanh nghe như “100 nhà sư Tây Tạng đang tụng kinh” bằng chính giọng hát của mình kết hợp với các âm thanh khác như tiếng chim mòng biển, dàn nhạc giao hưởng, đàn sitar, đàn guitar, thậm chí treo micro lên quạt trần đang quay để ghi lại âm thanh từ đàn organ.
3. “Strawberry Fields Forever” - The Beatles (1976) 
Khu tưởng niệm Strawberry Fields ở New York, Mỹ.
Khu tưởng niệm Strawberry Fields ở New York, Mỹ.
Bài hát là khúc khải hoàn hoài cổ và buồn vui lẫn lộn về thời thơ ấu của John ở Liverpool, thành phố cảng nước Anh, với sự xuất hiện của bộ tứ huyền thoại The Beatles: John Lennon, McCartney, George Harrison và Ringo Starr. Giọng ca chính John tự mô tả bài hát như một “bản phân tích tâm lý bằng âm nhạc”. Đây là đĩa đơn đầu tiên của The Beatles lập thành tích ngược, không đoạt ngôi quán quân ở bất cứ bảng xếp hạng nào. Ringo Starr vui vẻ nói về điều này: “Điều đó làm giảm áp lực đè nặng lên chúng tôi”.
Mặc dù vậy, “Strawberry Fields Forever” được giới phê bình hết lời ca ngợi. Tạp chí Time gọi đó là “sáng tạo đáng kinh ngạc mới nhất của The Beatles”, còn Rolling Stone sau đó xếp “Strawberry Fields Forever” ở vị trí thứ 3 trong danh sách Những bài hát nhạc rock hay nhất mọi thời đại.
4. “A Day in the Life” - The Beatles (1967) 
Bìa album “Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band
Bìa album “Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band" (1967). Từ trái sang: Ringo Starr, John Lennon, McCartney và George Harrison.
Bài hát nằm trong album có cái tên dài ngoằng “Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band”, gồm hai thành phần riêng biệt: phần đầu và cuối ảm đạm của John như một chiếc sandwich bao phủ khúc giữa rất tươi sáng của Paul. Hai phần được kết nối với nhau với âm thanh dàn nhạc đệm ồn ào, hỗn tạp, âm lượng càng lúc càng tăng.
Lời hát ám ảnh của John lấy cảm hứng từ cái chết do tai nạn xe hơi của một người bạn năm 1966, hoàn toàn đối lập với “cây cầu” của Paul kể về một người đàn ông thường rơi vào những giấc mơ ngay trong chính cuộc sống thường ngày.
“A Day in the Life” là bài hát cuối cùng trong “Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band”, album được nhà phê bình Stephen Thomas Erlewine của Allmusic đánh giá là album quan trọng nhất của The Beatles. Kể từ “Sgt. Pepper”, trong âm nhạc không còn một quy luật nào nữa, các ban nhạc có thể thử nghiệm bất kỳ thứ gì họ muốn, dù hay hơn hoặc dở hơn.

  
“A Day in the Life” được nhà soạn nhạc Paul Grushkin cho là “một trong những tác phẩm đầy hoài bão, có ảnh hưởng sâu đậm, đột phá nhất trong lịch sử nhạc pop”.

5. “Give Peace a Chance” - John Lennon (1969) 
John Lennon và Yoko Ono nằm trên giường khi thu âm "Give Peace a Chance" năm 1969.
Bài hát lấy cảm hứng chủ đạo từ cuộc chiến tranh mà Mỹ gây nên tại Việt Nam và phản ánh thái độ phản chiến rõ rệt của John. Ông sáng tác bài hát này trong thời gian đi nghỉ trăng mật cùng Yoko Ono sau đám cưới vào tháng 3/1969. John thu âm bài hát lần đầu tiên ngay trên giường ngủ, trên nền nhạc guitar tự đệm. Trong căn phòng lúc đó tràn ngập các nhà báo, nhà nhiếp ảnh và các nghệ sĩ nổi tiếng. John hát một cách ngẫu hứng, thậm chí nhiều chỗ ông còn không nhớ nổi lời hát và phải ứng biến, bản thu xen lẫn tiếng bình luận ồn ã của những người thưởng thức.
Tháng 10/1969, John hát “Give Peace a Chance” trước khoảng 500.000 người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam ở Washington. “Hãy cho hòa bình một cơ hội”, sau này, lời hát đó nhiều lần được cất lên bởi rất nhiều nghệ sĩ vĩ đại như U2, Paul McCartney, Joni Mitchell, Louis Armstrong và Elton John.
6. “Imagine” - John Lennon (1971) 
Ước nguyện hòa bình của John được gửi gắm trong
Ước nguyện hòa bình của John được gửi gắm trong "Imagine".
Đây là bài hát chủ đề trong album cùng tên của John phát hành năm 1971 và cũng là bài hát thành công nhất, đáng nhớ nhất trong sự nghiệp solo của huyền thoại người Anh.
Sau album solo đầu tiên “John Lennon/Plastic Ono Band” thổ lộ những đổ vỡ trong đời sống riêng và trong tâm hồn, John chuyển sang đề tài chính trị trong album thứ hai “Imagine”. Đây cũng là album thành công nhất về khía cạnh thương mại của ông.
Sau này, John từng nói hãy coi “Imagine” như một phiên bản dịu dàng hơn của “Working Class Hero” (Anh hùng của giai cấp lao động), bài hát nằm trong album “John Lennon/Plastic Ono Band”.
“Imagine” là một bản cáo trạng cay đắng của ông về giai cấp tư sản. Bất chấp tư tưởng gây tranh cãi, bài hát vẫn thành công rực rỡ trên thị trường âm nhạc nhờ giai điệu tha thiết và giọng ca ngập tràn hy vọng của John. Nhiều người không thể quên được tiếng piano đầy tâm trạng của John, cũng như không mấy ai làm được như ông, biến một tuyên ngôn chính trị mạnh mẽ thành một bài hát hàng đầu các bảng xếp hạng âm nhạc.
Pham Mi LyẢnh: Newscom

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Ả ĐÀO VÀ GEISHA

So sánh ả đào Việt Nam và geisha Nhật Bản


Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Lạc quan đối mặt với suy thận


Dù đã được bác sĩ cảnh báo có thể sẽ phải chạy thận nhân tạo để duy trì sự sống, nhưng may mắn đã đến với chị Đinh Thị Hồng Ng. (huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An) và ông Hoàng Mỹ L. (huyện Đạ Tẻh, Lâm Đồng) khi tìm được phương pháp phù hợp với mình, để có thêm tinh thần lạc quan trong việc chống chọi căn bệnh suy thận.

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

5 nhóm thuốc “khắc tinh” với bưởi


          Có 5 nhóm thuốc (trong mỗi nhóm lại có các thuốc cụ thể) bị tăng hiệu lực và độc tính nếu khi dùng người bệnh lại ăn bưởi, đó là: 
          - nhóm thuốc chẹn kênh calci; 
          - nhóm thuốc chống loạn nhịp; 
          - nhóm statin chống rối loạn mỡ máu; 
          - nhóm thuốc ức chế miễn dịch 
          - nhóm ức chế protease, trong đó có saquinavir. 
Do các thuốc này cần có sự xúc tác của cytochrom P450 3A4 (CYP3A4) ở gan và ruột non, trong khi đó 200ml nước bưởi lại làm giảm chuyển hóa của các loại thuốc nói trên. Đến nay, khoa học vẫn chưa xác định được chất gì trong bưởi ức chế CYP3A4
Được biết rằng tương tác chỉ xảy ra ở ruột khi ăn bưởi với các thuốc dạng uống, còn thuốc tiêm thì không ảnh hưởng gì.
BS. Vũ Hướng Văn

LA PALOMA


Nana Mouskouri

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

10 ẩn số không có lời giải trong lịch sử Việt Nam


Các vua Hùng trị vì bao nhiêu năm?
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, triều đại các vua Hùng ở Việt Nam bắt đầu khi vua Kinh Dương Vương lên ngôi năm Nhâm Tuất (2879 TCN). Triều đại này kéo dài đến năm Quý Mão (258 TCN) thì kết thúc với 18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong 2.622 năm. Tính trung bình, mỗi thời vua Hùng Vương kéo dài tới… 150 năm. Đây rõ ràng là một con số khó tin. Vì vậy, nhiều sử gia đã tỏ ý nghi ngờ và đưa ra các cách lý giải khác nhau về niên đại của thời kỳ Hùng Vương.
Theo đó, con số 18 ở đây không phải 18 đời vua mà là 18 ngành vua, mỗi ngành gồm nhiều đời vua mang chung vương hiệu, khi hết một nhành mới đặt vương hiệu mới. Nếu tính như vậy thì có thể có đến 180 đời vua Hùng, và thời gian trị vì trong 2.622 năm là hoàn toàn hợp lý.
Cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại trong khoảng 300 – 400 năm và niên đại kết thúc là khoảng năm 208 TCN chứ không phải là năm 258 TCN.
Ai sát hại Vua Đinh Tiên Hoàng?
Sử sách chính thống của Việt Nam đều ghi rằng người giết chết Đinh Tiên Hoàng - vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt là hoạn quan Đỗ Thích. Sử chép rằng, viên quan này mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Thái tử Đinh Liễn.
Tuy vậy, nhiều sử gia đã bày tỏ sự hoài nghi với các ghi chép này, vì Đỗ Thích chỉ là một viên hoạn quan, chức nhỏ, sức mọn, không hề có uy tín hay vây cánh, dù có gan đến mấy cũng không thể liều lĩnh đến như vậy được. Một giả thuyết được đặt ra: Đỗ Thích chỉ là tấm bình phong che đậy cho thủ phạm thực sự, Lê Hoàn và Dương Vân Nga mới chính là thủ phạm.
Theo lý giải, việc Lê Hoàn làm Phó vương khi Đinh Toàn lên ngôi, cấm cố họ Đinh cùng với việc các trung thần chống đối có thể là biểu hiện cho thấy mưu đồ chiếm ngôi của Lê Hoàn. Hành động của Lê Hoàn nhiều khả năng đã có sự trợ giúp của Dương Vân Nga.
Dương Vân Nga, có thể giữa bà và các hoàng hậu khác (Tiên Hoàng có những 5 hoàng hậu) đã xảy ra cuộc đua giữa họ về tương lai của ngôi thái tử. Do yếu thế trong cuộc cạnh tranh này, Dương Vân Nga đã chọn Lê Hoàn làm chỗ dựa.
Do vậy, dù động cơ có phần khác nhau, Dương hậu đã cùng Lê Hoàn tiến hành vụ ám sát chấn động lịch sử và dùng Đỗ Thích như một hình nhân thế mạng.
Lê Long Đĩnh có thật là vị vua tồi tệ nhất lịch sử?
Trong chính sử Việt Nam, Lê Long Đĩnh được mô tả là người bạo - ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa. Ông nổi danh vì những thú vui tàn ác như tra tấn tù binh bằng các cách thức mạn rợ, lấy mía để trên đầu nhà sư mà róc cho tóe máu… Do sống dâm dục quá độ nên Lê Long Đĩnh mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là “Ngọa-triều".
Tuy vậy giới sử học Việt Nam gần đây đã có những cách nhìn khác về vị vua tai tiếng này.
Nhiều nguồn sử liệu khẳng định, Lê Long Đĩnh là ông vua đầu tiên cử người đi lấy kinh Đại Tạng cho Phật giáo và sư Vạn Hạnh, thiền sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu cũng như các cao tăng khác thời đó đều được Lê Long Đĩnh rất trọng vọng... Và một ông vua đề cao Phật pháp như vậy có thể nào "lấy mía để trên đầu nhà sư mà róc" ?
Trước khi chết ở độ tuổi 24, Lê Long Đĩnh còn chăm lo việc đào kênh, mở mang đường sá và đến tận nơi xem xét rồi xuống chiếu đóng thuyền bè đi lại cho dân. Một ông vua suốt ngày ham mê tửu sắc không đi lại được đến mức phải "ngọa triều", ông vua đó có thể làm được những chuyện ý nghĩa như vậy không?
Không chỉ vậy, trong 4 năm làm vua, Lê Long Đĩnh đã 6 lần trực tiếp cầm quân ra trận, lần cuối cùng chỉ cách 2 tháng trước khi ông mất. Cầm quân đánh giặc liên miên như vậy phải có sức vóc, người "dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được" sao có thể cáng đáng nổi?
Ai là tác giả bài thơ Nam Quốc Sơn Hà?
Bài thơ Nam quốc sơn hà được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam, gắn với tên tuổi của danh tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105) và thắng lợi trước quân Tống xâm lược tại sông Như Nguyệt. Hiện nay, nhiều người vẫn ngộ nhận tác giả bài thơ là Lý Thường Kiệt.
Tất cả sử liệu Việt Nam, từ chính sử đến dã sử đều không nhắc đến tác giả bài thơ. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi rằng, vào một đêm, quân sĩ nhà Lý chợt nghe thấy có tiếng đọc to bài thơ này được trong đền Trương tướng quân. Trong khi đó, sách Lĩnh Nam Chích Quái cho rằng "Thần nhân tàng hình ở trên không” đã đọc bài thơ. Cũng theo Lĩnh Nam Chích Quái, bài thơ đã xuất hiện từ thời Lê Hoàn chống Tống, và cũng được đọc trên con sông Như Nguyệt.
Nguồn gốc bí ẩn đó đã khiến Nam quốc sơn hà được người đời coi là một bài thơ Thần.
Một số sử gia thời hiện đại đã đưa ra giả thiết tác giả bài thơ là những bậc đại sư như Khuông Việt hay Pháp Thuận, nhưng tính thuyết phục không cao vì chỉ dựa vào mối quan hệ của các Thiền sư với các vua thời đó.
Công chúa Huyền Trân tư thông với Trần Khắc Chung?
Công chúa Huyền Trân sinh năm 1287, là con gái của vua Trần Nhân Tông và em gái vua Trần Anh Tông. Năm 1306, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (Nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay) cho nhà Trần làm của hồi môn để lấy Huyền Trân. Vua Trần đã đồng ý gả công chúa.
Về Chiêm Thành, Huyền Trân được phong làm hoàng hậu. Một năm sau, bà sinh cho Chế Mân một hoàng tử, đặt tên là Chế Đa Đa. Ít lâu sau Chế Mân băng hà, nhà Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang.
Theo tục lệ Chiêm Thành, khi vua chết hoàng hậu phải lên dàn hỏa thiêu để chết theo. Vua Trần Anh Tông biết điều này bèn sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang rồi tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung đã bày kế thành công và cứu được Huyền Trân, đưa công chúa về Đại Việt bằng đường biển.
Theo một số nguồn sử liệu, cuộc hành trình về nước của công chúa Huyền Trân đã kéo dài tới một năm, và bà đã tư thông với Trần Khắc Chung trong khoảng thời gian đó.
Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "..hai người tư thông với nhau, trùng trình ở trên mặt biển, lâu lắm mới về đến kinh sư. Hưng Nhượng vương Quốc Tảng lấy làm ghét lắm, hễ thấy Khắc Chung liền mắng rằng: ‘Họ tên người này là "Trần Khắc Chung", đối với nước nhà có điều không tốt, có lẽ nhà Trần sẽ mất về người này chăng?’. Khắc Chung thường phải sợ mà lánh mặt..".
Tuy vậy cũng có một số sử gia đưa ra các lý lẽ khác nhau để minh oan cho Công chúa Huyền Trân. Có lẽ, thực hư của câu chuyện này ra sao mãi mãi là một ẩn số trong lịch sử Việt Nam.
Ai là thủ phạm trong thảm án Lệ Chi Viên?
Cho đến nay, vụ án Lệ Chi Viên với cái chết bí ẩn của vua Lê Thái Tông và việc tru di tam tộc quan đại thần Nguyễn Trãi vẫn là đề tài bàn luận sôi nổi của giới nghiên cứu sử học Việt Nam.
Theo sử sách, ngày 4/8/1442, vua về Lệ Chi (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với Vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi, khi ấy đã vào tuổi 40, rất được nhà vua yêu quý vì sắc đẹp, văn hay. Tại Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, rồi băng hà.
Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ít lâu sau đó. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và bổ dụng người con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ.
Sau này, nhiều sử gia đã tán đồng với giả thuyết cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh - vợ thứ vua Lê Thái Tông.
Về động cơ, thứ nhất là do bà đã có sẵn tư thù với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Thứ hai là do thời đó, nhiều người trong triều dị nghị rằng Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Thái tử Bang Cơ không phải là con Vua Thái Tông, sợ Nguyễn Trãi gièm pha nên bà đã sai người sát hại vua rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.
Vì sao vua Quang Trung băng hà?
Vào tuổi tứ tuần, giữa lúc chuẩn bị mở một chiến dịch tổng lực để tiêu diệt liên minh Nguyễn Ánh - Pháp, hoàn thành việc thống nhất đất nước; đồng thời nỗ lực giành lại hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông từ nhà Thanh, hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà. Biến cố này là một trong những nghi vấn lớn nhất của lịch sử Việt Nam.
Theo chính sử nhà Nguyễn, hoàng đế Quang Trung chết vì một chứng bệnh kỳ bí, bắt đầu từ một cơn đột quỵ khiến ông rơi vào trạng thái mê man nhiều ngày. Chứng bệnh này sử gia nhà Nguyễn giải thích như sự trừng phạt của thần thánh dành cho việc quân đội của ông đã xâm phạm các tôn lăng của chúa Nguyễn khi chiếm thành Phú Xuân (Huế).
Nếu gạt bỏ những yếu tố hoang đường và dụng ý chính trị thì những mô tả trong Ngụy Tây liệt truyện đã hé mở phần nào nguyên nhân dẫn đến cái chết của vua Quang Trung trên phương diện y học hiện đại.
Theo giả thuyết của các nhà nghiên cứu ngày nay, nhiều khả năng vị hoàng đế vĩ đại của nhà Tây Sơn đã bị suy sụp bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột và qua đời vì tai biến mạch máu não.
Ngoài ra, còn một giả thuyết khác khá hoang đường khác về cái chết của vua Quang Trung, đó là ông đã bị trúng tà thuật từ chiếc áo bị yểm bùa do vua Càn Long của nhà Thanh ban tặng. Một biến thể của giả thuyết này là chiếc áo kể trên đã bị tẩm thuốc độc.
Vợ con của Hoàng tử Cảnh thông dâm với nhau?
Hoàng tử Cảnh của nhà Nguyễn (Nguyễn Phúc Cảnh, 1780 – 1801) là một người có số phận bi kịch, khi mới 3 tuổi đã bị đưa sang Pháp làm con tin, ngoài 20 tuổi đã bị bệnh đậu mùa mà mất sớm.
Sau khi ông mất, vua Gia Long quyết định chọn hoàng tử Đảm (Minh Mạng) - em cùng cha khác mẹ với Hoàng tử Cảnh thay vì chọn Nguyễn Phúc Mỹ Đường – con trai hoàng tử Cảnh làm người nối ngôi như thông lệ. Một bi kịch mới bắt đầu từ đây.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị. Vua Minh Mạng đã sai tướng Lê Văn Duyệt dìm nước chết Tống thị, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân và chết trong nghèo khó.
Về vụ án thông dâm kì lạ này của triều Nguyễn, các sử gia sau này có rất nhiều lời bàn. Một quan điểm được nhiều người ủng hộ, đó là vua Minh Mạng đã dựng lên vụ án loạn luân để loại bỏ Mỹ Đường – người có thể sẽ tìm cách dành lại ngôi vua, đồng thời là chỗ dựa về chính trị của một số triều thần chống đối.
Việt sử giai thoại cho rằng: Thời ấy, có hai tội thuộc hàng đại ác không thể tha, ấy là bất trung và thất đức. Bất trung thì con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh chẳng có biểu hiện gì, vậy thì Minh Mạng muốn được yên vị trên ngai, ắt phải khép Mỹ Đường vào tột thất đức là thông dâm với mẹ.
Vì sao có bể xương chùa Thầy?
Hang Cắc Cớ thuộc khu di tích chùa Thầy ở xã Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) được dư luận quan tâm đặc biệt vì trong hang này có một chiếc bể chứa hàng nghìn bộ xương người.
Theo lời kể được truyền qua nhiều thế hệ, khi tìm thấy hang, người ta chứng kiến những bộ hài cốt này nằm trong một hố như cái giếng, nằm chồng chất lên nhau. Cách đây hàng trăm năm, người dân xây một chiếc bể vuông, tựa vào vách dùng để chứa hài cốt. Trên tấm bia ghi bên ngoài bể bằng tiếng Hán, dịch ra đại ý là “Lữ Gia chống Hán lưu sử sách/Bể hận ngàn xương mãi mãi ghi”.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lữ Gia là tướng nhà Triệu, nước Nam Việt (thế kỷ 2 TCN). Dưới triều Thuật Dương Vương (111 TCN), ông giữ chức Tể tướng. Tuy vậy, giới sử học và khảo cổ Việt Nam đưa ra nhiều phỏng đoán khác về nguồn gốc bể xương này.
Theo các giả thuyết, đây có thể là xương cốt của nghĩa quân người Việt bị quân nhà Minh giết khoảng thế kỷ thứ 14, 15 hoặc xương của người dân địa phương khi chạy trốn quân Cờ Đen ở nhà Thanh do Lưu Vĩnh Phúc cầm đầu tràn sang nước ta và hoành hành quanh vùng núi Thầy cuối thế kỷ 19. Cũng có thể các bộ xương này là của chính quân Cờ Đen.
Vua Khải Định có phải là cha của vua Bảo Đại?
Vua Khải Định (1885 – 1925), là vị Hoàng đế thứ mười hai nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông có tất cả 12 bà vợ, nhưng chỉ có một con trai duy nhất là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, con bà Hoàng Thị Cúc, người sau này là vua Bảo Đại.
Theo sử sách chép lại, vua Khải Định bất lực, không thích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông. Điều này đã gây ra nhiều đồn đại về việc ai là người cha thực sự của vua Bảo Đại.
Nhiều ý kiến cho rằng, nàng hầu Hoàng Thị Cúc đã có thai từ trước khi vào cung, nhưng vẫn được vua Khải Định công nhận sau khi Vĩnh Thụy ra đời. Hồi ký của một số người trong hoàng tộc Nguyễn đồng ý với nhận định này và còn đưa ra khẳng định rằng, Hoàng tử Vĩnh Thụy chỉ là con nuôi của vua Khải Ðịnh.
Theo KIẾN THỨC

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

John Lennon

Imagine - Bản Tuyên ngôn Cộng sản của John Lennon

"Imagine" (Hãy tưởng tượng hay Hãy hình dung) là một bài hát với chủ đề Thế giới đại đồng do John Lennon thể hiện trong album Imagine năm 1971 của ông.
"Imagine" được nhiều người coi là một trong những bài hát hay nhất của mọi thời đại. Năm 2004, tạp chí Rolling Stone bầu "Imagine" là bài đứng thứ 3 trong 500 bài hát vĩ đại nhất. Cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã nói, "Ở nhiều nước trên khắp thế giới - tôi và vợ tôi đã đến thăm 125 nước - người ta nghe thấy bài Imagine của John Lennon được hát như thể quốc ca".
Trong cuốn sách Lennon in America (Lennon ở Mỹ) của Geoffrey Giuliano, Lennon đã bình luận rằng "Imagine" là "một bài hát chống tôn giáo, chống chủ nghĩa dân tộc, chống truyền thống, chống chủ nghĩa tư bản, nhưng vì bọc đường nên nó được chấp nhận". Lennon còn miêu tả bài hát "gần như là bản Tuyên ngôn Cộng sản".
Vợ Lennon, bà Yoko Ono nói rằng lời bài hát "Imagine" "chính là những gì John tin tưởng — rằng tất cả chúng ta là một quốc gia, một thế giới, một dân tộc. Ông đã muốn truyền đạt tư tưởng đó".
Trích dịch lời bài hát:
Hãy tưởng tượng thế giới không có thiên đường... không có địa ngục. Trên đầu ta chỉ là bầu trời. Hãy hình dung tất cả mọi người sống cho ngày hôm nay...
Hãy hình dung thế giới không có các quốc gia...không có gì để giết hoặc để chết vì nó... và cũng không có cả tôn giáo. Hãy hình dung tất cả mọi người sống trong hòa bình...
Hãy hình dung thế giới không có tài sản... không cần phải tham lam hay thèm khát điều gì. Một tình bằng hữu của con người. Hãy hình dung tất cả mọi người cùng chia sẻ cả thế giới...
Bạn có thể nói rằng tôi là kẻ mơ mộng, nhưng tôi không phải người duy nhất. Tôi hy vọng ngày nào đó bạn sẽ đến với chúng tôi. Và thế giới sẽ trở thành như một.

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Không thể chối bỏ Triệu Đà và nước Nam Việt?


Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. 

Việt Nam 120 năm trước trong ảnh của Firmin André Salles


Tượng Nữ thần Tự do trên đỉnh Tháp Rùa, 
đại lộ Norodom và bức tượng Gambetta ở Sài Gòn, xướng tên người trúng tuyển kỳ thi Hương Nam Định...  là những hình ảnh đặc sắc về Việt Nam những năm 1890 do nhiếp ảnh gia Pháp Firmin André Salles (1860-1929) thực hiện.