Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Âm nhạc thời kỳ Cổ đại

Đó là một thời kỳ mà trí tuệ của con người mở rộng để hiểu biết thực tiễn, hiểu biết thiên nhiên, đồng thời triết học đã phát triển. Có những quốc gia đã hình thành hệ thống chữ viết của mình. Trong các ngành nghệ thuật: văn học, kiến trúc, tạo hình... đã sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, và nghệ thuật âm nhạc cũng nẩy sinh nhiều nhân tố mới, có ý nghĩa lớn lao, phản ánh trong phạm vi rộng hơn về hình tượng, tư duy.

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

ẢNH ĐẸP HÀ NỘI

Khi được quan sát từ độ cao hơn 200 m, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tòa nhà Quốc hội, cột cờ Hà Nội, cầu Thê Húc, Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay các quảng trường ở thủ đô đẹp rực rỡ.

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Ngôi nhà như resort mini với giá 180 triệu đồng

Được người bạn cho miếng đất ở giữa vườn xoài, anh Steve Areen tự mình xây ngôi nhà trong 6 tuần với  tổng chi phí 9.000 USD.

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Những bức ảnh khó tin không hề sử dụng Photoshop

Jee Young Lee, một nữ nghệ sĩ trẻ 30 tuổi người Hàn Quốc đã tạo ra những bức ảnh tuyệt vời mà nhìn vào chắc chắn bạn sẽ nghĩ là sản phẩm của Photoshop.

Những điều cần biết về nghệ thuật tuồng


Tuồng – Một loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính cổ điển khá độc đáo của Việt Nam. Ngôn ngữ của tuồng là văn chương bác học kết hợp nhuần nhuyễn văn chữ Hán với văn nôm. Theo một số tư liệu thì tuồng ảnh hưởng của hí khúc (Trung Quốc) do quân lính nhà Nguyên bị giữ làm tù binh dưới thời nhà Trần (thế kỷ XIII) biểu diễn. Nhưng tuồng Việt Nam có nét riêng của nó. Lúc đầu, tuồng chỉ xuất hiện ở miền Bắc, sau đó theo binh lính chúa Nguyễn vào Đàng Trong và phát triển cực thịnh ở đó. Tuồng phát triển mạnh vào thế kỷ XVII -XVIII. Sang triều Nguyễn (thế kỷ XIX) tuồng vẫn giữ vị trí xứng đáng trong đời sống văn hoá ở cung đình và trong dân dã.

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

10 bức ảnh đắt giá nhất trong lịch sử nhiếp ảnh thế giới


Những bức ảnh tưởng chừng như rất đỗi bình thường, nhưng chúng đã được bán với giá hàng triệu USD.

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Những nguyên tắc của bố cục trong nhiếp ảnh


Nguyên tắc bố cục không phải là giáo điều cứng nhắc mà nó là những thủ pháp giúp nghệ sĩ đặt chủ đề đúng vào những vị trí xứng đáng và thích hợp trên khung ảnh. Hoặc cũng thể là những thủ pháp bố cục tạo hình theo những quy luật mỹ học.

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Ả ĐÀO VÀ GEISHA

So sánh ả đào Việt Nam và geisha Nhật Bản


Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Giải mã ca từ Trịnh Công Sơn


Nhân kỷ niệm 10 năm ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về cõi thiên thu 1/4 (2001-2011), Nhà xuất bản Trẻ xuất bản cuốn sách “Thư tình gửi một người” tập hợp hơn 300 trang thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi Ngô Vũ Dao Ánh, người tình có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu bền trong cảm hứng sáng tạo âm nhạc của nhạc sĩ. Điều đặc biệt là thông qua hàng trăm trang thư tình mà Dao Ánh đã cất giữ tận đáy lòng gần nửa thế kỷ nay, người đọc không những được thưởng thức những trang thư tài hoa lấp lánh mà còn được thâm nhập sâu vào thế giới nội cảm phong phú của Trịnh Công Sơn, từ đó hiểu sâu hơn về ca từ và con người Trịnh Công Sơn.

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Ðiệu Hát Hò Khoan Quảng Nam


Ðiệu Hát Hò Khoan Quảng Nam
Trung Nhân


Huế có điệu hò mái đẩy não nùng. Bình-định có nói vè buồn thê thảm. Quảng-nam có điệu hát hò khoan dí dỏm, dễ thương.

Hò mái đẩy hay nói vè, thường thường đã có câu hát sẵn, người hát chỉ cần giọng tốt thuộc bài bản là có thể hát hò được. Trái lại, điệu hát hò khoan Quảng nam là lối hát "kiến tại", câu hát xướng hay đối, phải do mình đặt ra và hát lên ngay tại hiện trường, do đo ùngười hát phải sáng dạ, thông minh, thuộc nhiều điển tích. Một đêm hát hò khoan như một thi đàn xướng họa của lớp bình dân. Cũng bởi khó khăn này, cho nên điệu hát hò khoan thất truyền, kể từ khi xứ Quảng theo vận nước lâm vào cảnh chiến tranh, những câu hát nhân nghĩa bình thường ít ai ghi nhớ, chỉ còn những câu hát dí dỏm, hoặc châm chọc độc đáo được lưu truyền trong dân gian, để hát trong các buổi gặt lúa, giã gạo, giã vôi làm nhà v.v...

Tôi gọi là hát Hò Khoan, vì sau mỗi câu hát thính giả đồng thanh hò phụ "Hố khoan, hố khoan hợi là Hò Khoan", cái buổi hát có một bên nam và một bên nữ.,có khi hát nhân nghĩa, trai gái kết bạn trăm năm, diễn biến đến hồi cần ông mai hoặc bà mối, thì trong đám người nghe, có lẽ ra tay giúp đỡ đôi trai gái, hát làm mai. Cái buổi hát hò khoan sôi động không bao giờ giống nhau. Có khi hai bên trai gái hát đố, hát xạo, và cũng có lúc hát tuồng tích. Nói chung tùy theo ngẫu hứng của buổi hội ngộ. Tham dự một buổi hát hò khoan mới thấy được tài thông minh độc đáo và dễ thương của giới bình dân xứ Quảng, bởi hát hò khoan, câu hát được nghĩ ra trong một thời gian rất ngắn, người không có tài ứng biến không hát được, đối phương dứt câu hát, thính giả hò phụ "Hố khoan hợi là hò khoan", chậm lắm là một hai phút, phải hát trả lời, nếu bí thì đành bỏ cuộc ra về, không thể nào để khoảng thời gian trống lặng, cái khó của điệu hát hò khoan là như vậỵ

Câu hát hò khoan được truyền khẩu trong nhân gian,nhưng hình như không có ai ghi chép như ca dao, tục ngữ. Thuở xưa, dân chúng còn tiêu tiền kẽm, chưa có giấy bạc, đồng tiền hình tròn, lỗ vuông. Một cô gái kiêu sa cho mình như đồng tiền quí giá, hát rằng:

        Thân em thái thể đồng tiền
        Lớn thời ăn sáu nhỏ nguyền ăn ba
        Chữ đề thông bữu quốc gia
        Dân yêu quan chuộng nghĩ đà sướng chưa ?

Không may cho cô ta, gặp phải chàng trai ngỗ ngáo, ứng khẩu đáp ngay:

        Thân anh thái thể chuổi trôn
        Ăn sáu anh cũng xỏ, ăn ba không từ
        Đi ra mua bán đời chừ
        Đồng sứt đồng mẻ anh không từ đồng mô
        Nói ra thì sợ mất lòng cô
        Chứ đường ngay tôi xỏ thẳng
        Lẽ mô cô giận hờn
Đến nông nỗi này thì cô gái đành ngoe nguẩy bỏ đi, không quên liếc xéo chàng trai ứng đối hợp cảnh hợp tình. Lại một cô gái không dám ví mình như đồng tiền, gặp nhau cô nàng mời ăn uống đàng hoàng, nhưng có giòng máu Hồ Xuân Hương nên cô ta hát rằng:

        Chàng tới thiếp, thiếp dọn một bát mì tàu
        Hai bên thịt mỡ trắng phau phau
        Ở giữa có con tôm sú nhuộm màu ngân ta
        Chàng ăn rồi, chàng chẳng muốn ra
        Chàng kêu bầy trẻ, pha nước trà bưng lên

Một chàng trai ứng khẩu hát đối:

        Thiếp tới chàng chàng dọn một dĩa rau
        Hai bên hai củ hành tàu
        Ở giữa có con cá tràu nằm ngang
        Ăn vô cho thấu bụng nàng
        Thực bất tri kỳ vĩ, mới biết của chàng là ngon

Cái hay của câu hát đối là chữ "thấu", và câu kết đã ăn không rõ mùi vị ra sao, mà biết ngon. Một cô gái kênh kiệu hát câu hát sau đây, mà hình như từ xưa chưa tìm ra được câu hát đáp lễ:

        Đất em ở dựa bờ rừng
        Tây qua đạt sứ lại có chừng không sai
        Đất của em, một đám ngăn hai
        Giữa mương nước chảy hai bên thành bờ
        Nửa đám em để một tờ đoạn ngôn
        Phận chàng là cháu đích tôn
        Để làm chi ? Đàng trên lấn xuống, đàng dưới lấn lên ??
        Tức mình đội bộ xuống Sứ mà quỳ
        Chữ chàng đứng giữa, thiếp thì hai bên

Câu hát hò khoan của một cô gái xứ Quảng nam đóng vai gái Huế, không rõ giận người tình thế nào, mà hát một câu độc, đáo để, không ai đối được. Kể cả chàng trai cùng các người tài cao học rộng. Câu hát như sau:

        Đất Quảng nam rộng đà ra sức rộng
        Đường ra kinh xa đã quá xa
        Anh ra làm chi mỗi tháng mỗi ra ?
        Anh ra một bữa cực ta ba, bốn ngày

Tiếng Việt giàu ẩn ngữ và súc tích, nếu cô gái nói ra Huế thì câu hát chẳng có gì là độc, hơn nữa cô ta trách chàng ra mỗi tháng thì điêu ngoa vô cùng.

Tương truyền ở Quận Đại Lộc có anh Trần Hàn xấu trai, mặt thì rỗ, lại thêm chột hết một mắt, nhưng anh ta hát hay nổi tiếng ở Quảng nam. Cao nhơn tắt hữu cao nhơn trị, anh xuống làng La Qua , quận Điện Bàn, gặp một cô gái hát chỉ hai câu, anh không tài nào đối được, đành bỏ nghề hát, tuyệt tích gian hồ. Câu hát rằng:

        Trần ai gặp lúc cơ hàn
        Rổ đan mặt mốt, xuống ngàn đổi khoai.

Cái chữ khó của câu hát là chữ "Rổ" .Đan mặt mốt, nghĩa trắng là nghèo quá phải đan rổ tre long mốt để khoai, nghĩa đen lại là mặt rỗ hoa mè lại đui một mắt (mặt mốt nói lái là một mắt).

Hát hò khoan là lối hát kiến tại, những buổi hội ngộ để hát, hai bên trai gái tự đặt câu hát, không bao giờ lặp lại câu hát cũ đã có kẻ hát rồi, những câu hát "Xạo" nói trên cũng do kẻ hát người đối trong một thời điểm nào đó, nhưng tâm lý quần chúng ưa thích, những câu hát châm chọc nên truyền miệng lưu lại mai sau. Còn những câu hát gái trai thì ít được lưu truyền , thông thường kẻ thấp cổ bé miệng, ưa trêu ghẹo bề trên, như hai câu hát của thân phận đi ở mướn sau đây:

(Câu một)

        Hồi nhỏ tôi ở với cậu với mợ
        Mợ cho ăn cơm nguội
        Uống nước lạnh, ngủ nhà ngoài
        Đêm khuya đau bụng tôi lần tôi vô
        Mợ nghe sục sạt, mợ hỏi: đứa mô ?
        Thưa rằng, đau bụng con vô kiếm gừng
        Dang tay mợ rút mối dây lưng
        Độc thời con giải độc, chớ kiếm gừng làm chi ?

(Câu hai)

        Hồi nhỏ tôi ở với cậu với mợ
        Cậu ăn rồi cậu bỏ cậu đi
        Mợ ở nhà mợ ngủ như Địch Nghi
        Quần áo tuột hết giống chi cũng không còn
        Đầy tớ lâu ngày thác thể bà con
        Chết thì con chịu chết
        Thấy đồ ngon con không từ
      
Không phải hầu hết câu hát hò khoan là hát "Xạo", mà còn nhiều câu hát về tuồng cổ, về bổn phận làm trai với quốc gia, làm con với cha mẹ.